Trang chủ Văn bản Liên hệ Sơ đồ website
Giới thiệu
Giới thiệu
Sơ đồ tổ chức
Chức năng nhiệm vụ
Lịch sử phát triển
Danh bạ
Tin tức - Sự kiện
Tin tức - Sự kiện
Tin hoạt động ngành
Kinh tế - Xã hội
Tin địa phương
TT thống kê tháng
TT thống kê tháng
Số liệu thống kê
Số liệu thống kê
Đơn vị hành chính
Dân số và Lao động
Tài khoản quốc gia
Ngân sách nhà nước
Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản
Công nhiệp
Thương mại và giá cả
GD, Y tế, Văn hóa và đời sống
Số liệu chuyên đề
Số liệu chuyên đề
Chỉ số giá tiêu dùng
Giá trị xuất nhập khẩu
Chỉ số sản xuất công nghiệp
Các cuộc điều tra
Các cuộc điều tra
Chương trình điều tra thống kê hàng năm
Dân số và Lao động
Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản
Vốn đầu tư
Doanh nghiệp
Cơ sở SXKD cá thể
Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp
Thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng, du lịch và DV
Điều tra mức sống hộ gia đình
Các cuộc điều tra khác
Phương pháp TK
Phương pháp TK
Hệ thống chỉ tiêu thống kê
Khái niệm, định nghĩa, phương pháp tính các chỉ tiêu thống kê
Chương trình điều tra thống kế quốc gia
Các bảng danh mục
Chế độ báo cáo thống kê
Nội dung khác
Văn bản pháp lý
Văn bản pháp lý
Hỏi đáp
Hỏi đáp
Tin tức & Sự kiện
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH NAM ĐỊNH THÁNG 02 NĂM 2022 - 28/02/2022

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Tháng 02/2022, toàn tỉnh đã thu hoạch xong cây vụ Đông, sản xuất vụ Xuân được đẩy nhanh tiến độ. Chăn nuôi phát triển ổn định; dịch bệnh trên đàn vật nuôi được kiểm soát tốt. Sản xuất thuỷ sản được duy trì, khai thác biển khởi động lại sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán. Tuy nhiên, thời tiết diễn biến không thuận lợi: không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kèm theo mưa trên diện rộng ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tháng.
a. Sản xuất nông nghiệp
Trồng trọt: Sản xuất vụ đông: Vụ đông năm 2021-2022, toàn tỉnh gieo trồng 9.442 ha cây hàng năm, giảm 0,8% (-79 ha) so với vụ Đông năm trước; trong đó diện tích trồng trên đất 2 lúa 970 ha. Theo đánh giá sơ bộ, năng suất các cây trồng vụ Đông năm 2022 tương đương so với vụ Đông năm trước.
Sản xuất vụ xuân: Theo kế hoạch, vụ Xuân năm 2022 toàn tỉnh dự kiến gieo cấy 72.000 ha lúa và gieo trồng 11.810 ha cây rau màu các loại. Theo báo cáo nhanh của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến ngày 16/02/2022, toàn tỉnh đã cấy và sạ được 65.500 ha (đạt 90% diện tích), trong đó có 44.850 ha gieo sạ.
Tiến độ trồng rau màu vụ Xuân được đẩy nhanh, tính đến ngày 16/02/2022 toàn tỉnh đã trồng được 7.740 ha rau màu các loại, trong đó cây lạc 4.320 ha, cây ngô 1.020 ha, cây khác 2.400 ha.
Chăn nuôi và thú y: Dự ước tháng 02/2022, đàn trâu có 7.660 con, tăng 0,1% (+10 con); đàn bò 28.624 con, giảm 1,6% (-461 con) so với cùng kỳ năm trước.
Đàn lợn 643.062 con, tăng 0,2% (+962 con); sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tháng 02/2022 ước đạt 14.986 tấn, tăng 0,1% (+19 tấn) so với cùng kỳ năm 2021.
Đàn gia cầm 9.214 nghìn con, tăng 5,4% (+474 nghìn con) so với cùng kỳ năm trước; trong đó đàn gà 6.628 nghìn con, tăng 5,5% (+348 nghìn con).
b. Lâm nghiệp
Tháng 02 năm 2022, các địa phương trong tỉnh tổ chức Lễ phát động tết trồng cây Xuân Nhâm Dần năm 2022 thiết thực, hiệu quả, đảm bảo an toàn trong phòng, chống dịch Covid-19. Theo kế hoạch năm 2022, toàn tỉnh phấn đấu trồng trên 1,2 triệu cây phân tán các loại tại các trục đường giao thông nông thôn, các cơ quan, doanh nghiệp, trường học, khu xử lý rác thải tập trung; trồng mới 19 ha rừng và trồng bổ sung phục hồi 190 ha rừng phòng hộ, đặc dụng ven biển.
c. Thuỷ sản
Sản lượng thuỷ sản tháng 02/2022 ước đạt 13.188 tấn, tăng 5,1% (+637 tấn) so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Thuỷ sản nuôi trồng 9.177 tấn, tăng 6,3% (+547 tấn); khai thác 4.011 tấn, tăng 2,3% (+90 tấn).
2. Sản xuất công nghiệp, đầu tư và xây dựng
a. Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 02/2022 ước tính giảm so với tháng trước do tháng Hai năm nay trùng với kỳ nghỉ Tết Nguyên đán.
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 02/2022 ước giảm 16,36% so với tháng trước và tăng 9,80% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung hai tháng đầu năm 2022, IIP ước tăng 9,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,85%, đóng góp 9,44 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 9,47%, đóng góp 0,22 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,03%, đóng góp 0,17 điểm phần trăm; riêng ngành công nghiệp khai khoáng giảm 5,30%, làm giảm 0,02 điểm phần trăm.
Sản phẩm công nghiệp: Tính chung hai tháng đầu năm 2022, trong 29 nhóm sản phẩm công nghiệp chủ yếu có 18 nhóm tăng so với cùng kỳ năm trước, tiêu biểu như: Giày dép tăng 24,0%; quần áo may sẵn tăng 14,3%; sợi các loại tăng 10,5%; bàn ghế bằng gỗ các loại tăng 6,1%; thịt lợn đông lạnh tăng 5,3%; bánh kẹo các loại tăng 2,7%;...
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 02/2022 tăng 2,65% so với tháng trước.
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 28/02/2022 giảm 47,19% so với cùng thời điểm năm trước.
Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp tháng 02/2022 giảm 0,01% so với tháng trước và tăng 4,07% so với cùng kỳ năm trước.
b. Đầu tư và xây dựng
Ngày sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022, các nhà thầu đã đồng loạt ra quân, tập trung nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án, công trình trọng điểm, phấn đấu hoàn thành đúng kế hoạch vốn đã giao. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 2 tháng đầu năm 2022 ước đạt 12,3% kế hoạch năm và tăng 22,0% so với cùng kỳ năm trước.
Đẩy mạnh đầu tư công là một trong những giải pháp quan trọng cần tập trung thực hiện quyết liệt để thúc đẩy phát triển kinh tế tỉnh. Nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án, công trình trọng điểm, phức tạp, tỉnh Nam Định đã thành lập “Ban chỉ đạo giải phóng mặt bằng phục vụ phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Nam Định giai đoạn 2022-2025” với hầu hết lãnh đạo chủ chốt tỉnh và các huyện, thành phố tham gia.
Một số dự án, công trình trọng điểm được tỉnh Nam Định chấp thuận chủ trương và đang thực hiện thủ tục đầu tư dự án trong thời gian tới: 3 dự án của Công ty Cổ phần Xuân Thiện Nam Định  tại huyện Nghĩa Hưng; Dự án đường bộ mới nối thành phố Nam Định với cầu Lạc Quần - đường ven biển; Một số cầu bắc qua sông Đào, sông Ninh Cơ, sông Đáy; Các Cụm công nghiệp tại địa bàn các huyện. Tháng 02/2022, tỉnh Nam Định đã có tờ trình kiến nghị Chính phủ cho phép đầu tư tuyến đường cao tốc Ninh Bình - Nam Định - Thái Bình - Hải Phòng, tổng mức đầu tư 19.000 tỷ đồng, bằng hình thức đầu tư công; trong đó đoạn qua địa bàn Nam Định dài 31 km, kinh phí đầu tư dự kiến gần 9.000 tỷ đồng;…
3. Thương mại, giá cả, dịch vụ
a. Tình hình nội thương
Kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Nhâm Dần diễn ra 6 ngày trong tháng 02/2022 làm cho hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh tháng Hai giảm so với tháng trước.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tháng 02/2022 ước đạt 4.565,7 tỷ đồng, giảm 10,0% so với tháng trước. Trong đó: Thương nghiệp 4.078,8 tỷ đồng, giảm 8,9%; lưu trú và ăn uống 230,3 tỷ đồng, giảm 18,5%; du lịch lữ hành 0,5 tỷ đồng, giảm 16,7%; dịch vụ khác 256,1 tỷ đồng, giảm 16,8% so với tháng trước.
Tính chung 2 tháng đầu năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt 9.636,2 tỷ đồng, tăng 7,0% so với cùng kỳ năm trước.
b. Xuất, nhập khẩu
Duy trì đà tăng trưởng của năm 2021, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh hai tháng đầu năm 2022 đạt mức tăng cao. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 2 tháng năm 2022 ước đạt 754,4 triệu USD, tăng 36,6% so với cùng kỳ năm 2021, xuất siêu đạt 228 triệu USD.
Tổng trị giá hàng hóa xuất khẩu tháng 02/2022 ước đạt 221,3 triệu USD, giảm 18,0% so với tháng trước và tăng 30,5% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng trị giá hàng hóa nhập khẩu tháng 02/2022 ước đạt 120,6 triệu USD, giảm 15,4% so với tháng trước và tăng 56,3% so với cùng kỳ năm trước.
c. Giá cả
Giá hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thiết yếu tăng theo quy luật tiêu dùng vào dịp Tết; giá xăng dầu trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới là những yếu tố làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 02/2022 tăng 1,65% so với tháng trước; tăng 1,75% so với tháng 12/2021 và tăng 1,44% so với cùng kỳ năm trước.
Trong mức tăng 1,65% của CPI tháng 02/2022 so với tháng trước có 07 nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng giá và 04 nhóm giá ổn định.
Bảy nhóm hàng hóa và dịch vụ tăng gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng nhiều nhất với 3,98% chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép do nhu cầu mua sắm vào dịp Tết và thời tiết chuyển rét đậm, rét hại vào giữa tháng 02; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,49% do giá điện, gas, dầu hỏa tăng; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,02% do nhu cầu tiêu dùng các thiết bị như máy hút bụi, đồ điện, đồ ăn, dao kéo làm bếp tăng; nhóm giao thông tăng 2,10% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng, dầu theo giá nhiên liệu thế giới; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,20% do giá cây, hoa cảnh và dịch vụ chụp, in tráng ảnh tăng trong dịp Tết; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,13% chủ yếu do dịch vụ cắt tóc gội đầu và dịch vụ chăm sóc cá nhân tăng.
Bốn nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá ổn định so với tháng trước: Nhóm đồ uống và thuốc lá; nhóm thuốc và dịch vụ y tế; nhóm bưu chính viễn thông và nhóm giáo dục. Trong tháng, chỉ số giá vàng tăng 2,39% và chỉ số giá đô la Mỹ giảm 0,92% so với tháng trước.
d. Giao thông vận tải
Đảm bảo thông suốt chuỗi cung ứng hàng hóa và đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân trước, trong và sau Tết Nguyên đán Nhâm Dần, vận tải hành khách từng bước được khôi phục, vận tải hàng hóa duy trì ổn định. Tính chung 2 tháng đầu năm 2022, vận chuyển hành khách giảm 4,2% so với cùng kỳ năm trước và vận chuyển hàng hóa tăng 3,4%.
Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 02/2022 ước đạt 470,8 tỷ đồng, giảm 7,5% so với tháng trước và tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
Tháng 02 năm 2022, trong điều kiện dịch bệnh Covid-19 có những diễn biến phức tạp, khó lường và là thời điểm nhân dân ta đón Tết cổ truyền của dân tộc, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự nỗ lực của các cấp, các ngành, của cộng đồng doanh nghiệp và sự đồng thuận của nhân dân tình hình đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định. UBND tỉnh yêu cầu các cấp, các ngành chức năng tăng cường công tác quản lý giá cả các loại hàng hóa và giám sát chặt chẽ thị trường; chống đầu cơ, găm hàng, gây sốt giá; chủ động đưa ra các biện pháp phòng chống nạn hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm lưu thông trên thị trường.
Công tác bảo trợ xã hội: Công tác tổ chức thăm hỏi, động viên, tặng quà cho các gia đình chính sách, người có công nhân dịp Tết đến, xuân về được thực hiện đầy đủ, chu đáo. Thực hiện chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, toàn tỉnh thực hiện trợ cấp ưu đãi người có công tháng 1, tháng 2 năm 2022 với số tiền 170 tỷ đồng; trả trợ cấp tháng 1, tháng 2 cho các đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền trên 86,3 tỷ đồng.
Các cấp, các ngành và nhân dân trong tỉnh thăm, tặng quà người có công với cách mạng, đối tượng xã hội trong dịp tết Nhâm Dần năm 2021 với số tiền trên 79,6 tỷ đồng, trong đó: Quà Chủ tịch nước tặng cho 59.385 đối tượng người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với tổng số tiền 18,1 tỷ đồng; Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ tỉnh tặng quà cho 59.498 đối tượng người có công và thân nhân liệt sỹ, người thờ cúng liệt sỹ với tổng số tiền 29,7 tỷ đồng; chúc thọ, tặng quà cho 42.709 người cao tuổi với tổng số tiền 12,3 tỷ đồng và 2.085 m vải lụa (tương đương 97,9 triệu đồng); trợ cấp Tết đột xuất cho 82.054 người thuộc đối tượng bảo trợ xã hội và 2.480 hộ nghèo với số tiền trên 13,1 tỷ đồng.
Công tác giảm nghèo: Theo báo cáo của Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh, tháng 01 năm 2022 doanh số cho vay hộ nghèo là 4.060 triệu đồng với 64 lượt khách hàng vay vốn; doanh số cho vay hộ cận nghèo là 30.686 triệu đồng với 438 lượt khách hàng vay vốn; doanh số cho vay hộ mới thoát nghèo 10.397 triệu đồng với 150 lượt khách hàng vay vốn; doanh số cho vay giải quyết việc làm 17.536 triệu đồng với 306 lượt khách hàng; doanh số cho vay đối tượng là học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn là 5.251 triệu đồng với 58 lượt khách hàng vay vốn; doanh số cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường là 20.432 triệu đồng với 1.022 lượt khách hàng; doanh số cho vay người sử dụng lao động để trả lương ngừng việc là 125.44 triệu đồng với 7 lượt khách hàng vay vốn.

    BC TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH NAM ĐỊNH THÁNG 02 NĂM 2022

Các tin khác
TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP THÁNG 5 NĂM 2022 - 01/06/2022
HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ THÁNG 5/2022 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÓ NHIỀU KHỞI SẮC - 01/06/2022
CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG, CHỈ SỐ GIÁ VÀNG VÀ CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ THÁNG 5 NĂM 2022 - 30/05/2022
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 5 NĂM 2022 - 27/05/2022
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 4 NĂM 2022 - 27/04/2022
ĐIỂM SÁNG KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH NAM ĐỊNH QUÝ I NĂM 2022 - 01/04/2022
THÔNG BÁO SỐ LIỆU GRDP ƯỚC TÍNH QUÝ I NĂM 2022 - 31/03/2022
HỌP BÁO CÔNG BỐ SỐ LIỆU THỐNG KÊ KINH TẾ - XÃ HỘI QUÝ I NĂM 2022 - 29/03/2022
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI QUÝ I NĂM 2022 - 28/03/2022
NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TỈNH NAM ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2011-2020 - 02/03/2022
Thông báo
V/v Cung cấp thông tin các Trưởng phòng cơ quan Cục Thống kê tỉnh Nam Định
Lịch phổ biến thông tin Thống kê năm 2022
Tin video
Đang online: 17
Hôm nay: 48
Hôm qua: 336
Tuần này: 384
Tuần trước: 2,043
Tháng này: 36,803
Tháng trước: 44,289
Tất cả: 1,097,596
Trang thông tin điện tử Cục Thống Kê Tỉnh Nam Định
Địa chỉ: Số 170 Hàn Thuyên - P. Vị Xuyên - TP. Nam Định - Tỉnh Nam Định